Tôi nhớ những ngày mồng một Tết hồi mình còn nhỏ ở
Hội An, trời thường se sắt lạnh vào sáng sớm. Thỉnh thoảng có mưa. Nhưng chỉ
mưa một chốc rồi tạnh. Những buổi sáng đầu năm, trong lòng tôi luôn nôn nao một
nỗi gì đó rất khó tả. Không phải đến sáng mồng một mới thấy nôn nao mà nỗi nôn
nao này bắt đầu có trong tôi từ những ngày hăm mấy của tháng chạp năm cũ, kéo
dài cho đến sáng mồng một, và kéo dài mãi cho đến hết Tết, lúc tôi đi học lại.
Cũng chính nỗi nôn nao ấy làm tôi không ngủ được vào đêm Giao thừa, và sáng
mồng một Tết nỗi nôn nao ấy lại bắt tôi dậy thật sớm. Tôi trèo xuống giường
thật nhanh, đánh răng rửa mặt thật nhanh, đòi mẹ mặc cho bộ áo quần mới chuẩn
bị từ mấy ngày trước Tết. Rồi chạy thật nhanh ra trước hiên nhà thập thò nhìn
ra đường, nhìn qua nhà hàng xóm. Chỉ nhìn thôi chứ không dám chạy qua chơi như
thường ngày vì mẹ đã dặn đi dặn lại là ngày mồng một, không được qua đạp đất
nhà hàng xóm, cả năm lỡ người ta làm ăn không ra, người ta lại trách móc người
đạp đất. Mấy đứa con nít hàng xóm cũng vậy, cũng thập thò trước hiên nhà mà
không dám bước ra khỏi hiên vì sợ sẽ đạp đất nhà khác. Mẹ dặn kỹ như vậy rồi
nhưng cũng có năm, anh Phong ở nhà bên cạnh chỉ vừa ngoắc tay, tôi đã chạy tót
qua nhà ảnh để được ba mẹ ảnh lì xì, được mời vào phòng khách ngồi chễm chệ ăn
bánh mứt, uống nước trà như người lớn. Có biết đâu đó là âm mưu của ba mẹ anh
Phong muốn năm đó, tôi là đứa sẽ đạp đất nhà ảnh, vì thằng nhỏ tôi lúc đó lanh
lẹ, có khuôn mặt hiền lành, dễ thương, chắc sẽ mang lộc vào nhà ảnh suốt cả
năm.
Khoảng bảy giờ sáng, cả nhà tụ tập đông đủ ở bàn ăn cho
bữa điểm tâm đầu năm. Bữa ăn đầu năm thường có bánh chưng hay bánh tét chiên,
ăn với dưa món và thịt heo dầm nước mắm. Có khi có thêm bánh tráng nhúng nước
cuốn với rau sống Trà Quế mẹ mua từ chiều ba mươi Tết để dành sẵn. Nếu có thêm
nữa thì ba sẽ cho lột vài gói trưởi để ba với ông ngoại làm đồ nhắm cho ly rượu
khai vị ngày đầu năm. Ở Hội An ngày xưa, mấy gia đình cùng xóm thường chung
nhau mua nguyên một con heo để ba mươi Tết mổ thịt, chia cho mỗi nhà một phần
con heo ăn Tết. Gia đình nào chủ trì sẽ được chia nguyên cái đầu heo, cái đầu
heo này sau đó được luộc chín để cúng tất niên. Cúng tất niên xong, tất nhiên
không có gia đình nào có thể ăn hết cái đầu heo luộc, nên phần còn lại của cái
đầu heo sẽ được chế biến thành món trưởi bằng cách xắt thịt thành từng sợi, ướp
gia vị gồm nước mắm, bột ngọt, thêm tiêu, tỏi và riềng cũng xắt sợi li ti, gói
lại thành từng gói nhỏ bằng lá chuối, phía trong cùng là lớp lá ổi già cho
thơm, treo ở nơi khô ráo trong nhà. Trưởi được dùng như một món đồ nhắm ngày
Tết, có để để dành hơn một tuần nếu trời không nóng. Khác với món nem được gói
bằng thịt sống, trưởi được gói bằng thịt heo đầu đã luộc chín nên có thể ăn
ngay từ lúc gói cho đến khi trưởi chua dần lên. Không chỉ để người lớn nhậu,
trưởi còn là món khoái khẩu của con nít chúng tôi nên hầu như năm nào nhà có
gói trưởi, món trưởi cũng là món hết sạch trước khi có thể bắt đầu chua.
Ăn sáng xong, cả nhà ra phòng khách, ăn bánh mứt, uống
trà và chúc Tết lẫn nhau. Lúc đó, tôi là đứa bé nhất nhà, tôi lần lượt khoanh
tay chúc Tết ông bà ngoại, chúc Tết ba mẹ, chúc Tết mấy dì mấy cậu. Cứ mỗi lần
chúc xong một người, tôi sẽ được người đó ôm vào lòng, hôn một cái lên má, được
chúc ngoan ngoãn, học giỏi và được tặng cho một phong bao lì xì màu đỏ trong đó
có những tờ tiền mới keng không một nếp gấp. Hồi còn nhỏ, tụi con nít chúng tôi
thường đọ với nhau xem đứa nào có nhiều phong bao lì xì hơn, được nhiều tờ tiền
mới hơn chứ không biết giá trị đồng tiền nhiều hay ít. Tiền lì xì sau Tết tôi
dồn lại đưa cho mẹ, mẹ xuống chợ phố Hội An mua một con heo bằng đất nung làm ở
làng gốm Cẩm Hà để tôi lần lượt nhét từng tờ tiền mới được lì xì vào khe hở
trên lưng con heo đất với niềm sung sướng vô biên. Suốt cả năm, con heo bằng
đất nung như một người bạn chí cốt, ban ngày tôi đặt con heo trên bàn học ngắm
nghía, tối tôi ôm con heo vô giường ngủ, ai cho đồng nào tôi nhét hết vào con
heo đất để dành. Để khi sắp Tết sang năm, mẹ đập con heo đất bể tan, lấy tiền
mua áo quần mới, mua sách vở cho tôi.
Sáng mồng một, chúc Tết xong, cả gia đình tôi sẽ mặc áo
quần mới, chở nhau bằng xe đạp ra nghĩa trang, thắp nhang ở mộ ông bà và những
người thân đã qua đời. Ngày Tết cũng là ngày ba mẹ dắt tôi đến từng ngôi mộ
người thân, giảng giải cho tôi biết người nằm dưới mộ là ai, quan hệ ruột rà
như thế nào với gia đình mình. Lúc đó tôi chẳng nhớ mấy, vì mãi ngắm theo màu
nắng Tết, những vạt áo màu mới tinh khôi và khói nhang lãng đãng như sương… Lúc
đó, tôi chỉ mong ba mẹ thắp nhang thật nhanh để còn chở tôi về, đưa tôi đi chơi
Tết.
Những ngày Tết bây giờ, cũng mỗi sáng mồng một Tết, sau
khi chúc Tết gia đình, tôi lại đưa vợ con ra nghĩa trang, dắt con tôi đi loanh
quanh thắp nhang ở từng ngôi mộ, trả lời cho con tôi cặn kẽ về những người đã
khuất nằm dưới mộ.
Như là một sự tiếp nối.
Ba mẹ tôi giờ đã già yếu lắm rồi. Con tôi rồi sẽ lớn
lên. Tôi rồi cũng sẽ đến ngày như ba mẹ bây giờ. Thời gian vốn dĩ vô tình,
không chờ đợi một ai. Những gì đã qua chẳng thể nào quay trở lại được.
Cho nên mới biết nâng niu những ngày Tết sum vầy, mới
thấy thiết tha những khoảnh khắc đầm ấm bên ba mẹ, anh em, bạn bè.
Chú ý:Bạn hãy lăn con chuột để xem tiếp những hình ảnh và những thước phim bên dưới Blog Các bạn muốn gởi thông tin, phim, ảnh về các cựu HTT vào blog Xin liên hệ Email:duytruchtt@yahoo.com
Jean
Henri Dunant (8.5.1828 –
30.10.1910), tức Henry
Dunant hoặc Henri Dunant, là một nhà kinh doanh và nhà hoạt động xã hội người Thụy Sĩ. Trong chuyến đi buôn bán năm 1859, ông
đã chứng kiến hậu quả của Trận Solferino ở
nước Ý ngày nay. Ông đã ghi lại ký ức và các kinh
nghiệm của mình trong quyển Một ký ức về Solferino , sách này đã gợi ý
cho việc thành lập Ủy ban Chữ thập
đỏ quốc tế (ICRC) năm 1863. Công ước Genève
năm 1864 cũng đã dựa trên các ý tưởng của Dunant.
Dunant sinh tại Genève, Thụy Sĩ, là con trai đầu lòng của nhà doanh
nghiệp Jean-Jacques Dunant và vợ là Antoinette Dunant-Colladon. Gia đình Dunant
rất sùng đạo Tin Lành hệ phái Calvin
và có ảnh hưởng lớn trong xã hội Genève thời đó. Cha mẹ ông rất quan tâm tới
giá trị của công việc xã hội, ông thường giúp đỡ các trẻ mồ côi cùng các tù
nhân được tha theo lời hứa danh dự. Mẹ ông thì làm việc giúp các người bệnh
tật, người nghèo khổ. Dunant lớn lên trong thời kỳ có
phong trào "Thức tỉnh tôn giáo", gọi là Réveil. Khi lên 18
tuổi, ông gia nhập "Hội bố thí Genève". Các năm sau, cùng với bạn bè,
ông lập ra cái gọi là "Thursday Association" (Hiệp hội ngày thứ
Năm), một nhóm thanh niên họp mặt vào ngày thứ Năm hàng tuần để học hỏi Kinh Thánh và giúp đỡ các người nghèo. Ông dùng
nhiều thời gian rảnh rỗi để vào thăm các tù nhân và làm việc xã hội. Ngày
30.11.1852, ông lập phân hội YMCA Genève và 3 năm sau ông
tham dự cuộc họp mặt ở Paris để thành lập tổ chức
YMCA quốc tế. Năm 1849, ở tuổi 21, Dunant bị
buộc phải rời trường Collège
Calvin vì học kém, ông bắt đầu học nghề tại hãng đổi tiền Lullin
et Sautter. Sau đó ông được giữ lại làm một viên chức ngân hàng
7 NGUYÊN
TẮC CĂN BẢN CỦA HỘI HTT
1)Nhân đạo
2)Vô tư 5) Chí nguyện
3)Trung lập 6) Đại đồng
4) Độc lập 7) Duy nhất
“ SỐNG VÌ VÀ NHỜ BẠN ”
“Mình vì mọi
người, mọi người vì mình”
Dựng bàn tay cao
Hội trại HTT Vùng 1 tại Cồn Hạt Châu Huế 1970
Năm 2004
Họp mặt tập 1:
Họp mặt tập 2:
Năm 2005 Họp mặt tập 1:
Họp mặt tập 2:
Năm 2006
Thủy Vân Sơn Đà Nẵng
___________________________________________________________________________________ Năm 2008 Hòa Khánh Đà Nẵng
Năm 2009
Video họp mặt xuân Kỷ Sửu 2009 tại Hội An Tập1
Tập 2
Tập 3
Năm 2010
Họp mặt xuân Canh Dần tại Đại Lộc
Video họp mặt xuân Canh Dần 2010 tại Đại Lộc
Tập 1:
Tập 2:
Họp mặt 8/5 tại Điện Bàn 2010
Năm 2011
Họp mặt kỷ niệm 8/5 tại khu du lịch sinh thái cảng Tiên Sa
Video họp mặt kỷ niệm 8/5.2011 taị KDL sinh thái cảng Tiên Sa
Tập 1
Tập 2
Tập 3
Tập 4
Tập 5
Tập 6
Năm 2012 họp mặt tại Hòa Vang - Cẩm Lệ
( Chưa nhận được phim và hình ảnh nên chưa cập nhật được)